Được đánh giá Rahul Jayaram, BS; và Christopher Teng, MD, MBA
Kết quả từ một nghiên cứu lớn toàn quốc phân tích dữ liệu Medicare và Medicaid cho thấy sự tiến hóa trong các loại phẫu thuật bệnh tăng nhãn áp đã diễn ra trong hơn một thập kỷ. Đáng chú ý nhất là việc áp dụng rộng rãi iStent (Glaukos Corporation), được FDA chấp thuận vào năm 2012 để điều trị bệnh tăng nhãn áp. Đến năm 2021, iStent chiếm gần 50% các ca phẫu thuật bệnh tăng nhãn áp.
Tác giả đầu tiên Rahul Jayaram, BS, sinh viên y khoa, và tác giả chính Christopher Teng, MD, MBA, đến từ Khoa Nhãn khoa và Khoa học thị giác tại Đại học Yale ở New Haven, Connecticut, đã trình bày những phát hiện của họ tại Hội nghị thường niên năm 2024 của Hiệp hội Nghiên cứu về Thị giác và Nhãn khoa tại Seattle, Washington.
Một quan sát khác có thể bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng iStent ngày càng tăng là số ca phẫu thuật cắt bè giảm mạnh, trong khi số lượng thiết bị dẫn lưu dùng cho bệnh tăng nhãn áp vẫn ổn định.
Quy trình MIGS
Phân tích ghi nhận xu hướng ngày càng phổ biến của các phẫu thuật tăng nhãn áp xâm lấn tối thiểu (MIGS). Teng giải thích: “Chúng tôi đã ghi nhận sự gia tăng về số lượng thiết bị MIGS trên thị trường và sự gia tăng trong việc sử dụng chúng và muốn điều tra việc sử dụng tất cả các loại thủ thuật tăng nhãn áp”.
Do đó, để xác định xu hướng mới nhất về phẫu thuật điều trị bệnh tăng nhãn áp tại Hoa Kỳ, họ đã tiến hành phân tích hồi cứu dựa trên dân số bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu Tóm tắt quốc gia Phần B của Trung tâm dịch vụ Medicare và Medicaid từ năm 2011 đến năm 2021. Jayaram và Teng kể lại rằng họ đã phân tích cơ sở dữ liệu để xác định tất cả các trường hợp liên quan đến phẫu thuật trabeculectomy, cấy ghép dẫn lưu bệnh tăng nhãn áp (GDI) và nhiều thủ thuật MIGS khác nhau bao gồm iStent, phẫu thuật mở góc tiền phòng, trabeculectomy, quang đông (ECP), CyPass Micro-Stent (Alcon), đặt shunt từ bên ngoài, nong xuyên nhãn cầu và XEN Gel Stent (Allergan) dựa trên các mã thủ thuật.
Phân tích sở thích phẫu thuật bệnh tăng nhãn áp
Sau khi điều chỉnh theo lạm phát, các nhà điều tra lưu ý rằng “tổng số tiền thanh toán Medicare Phần B cho các thủ thuật điều trị bệnh tăng nhãn áp đã chọn đã tăng từ 71,5 triệu đô la vào năm 2011 lên 246,1 triệu đô la vào năm 2021”. Sau đây là những thay đổi hàng đầu về số lượng các loại phẫu thuật và chi phí:
- Tổng số ca phẫu thuật điều trị bệnh tăng nhãn áp tăng đáng kể 176,66%, từ 80.151 ca năm 2011 lên 221.602 ca năm 2021.
- Phẫu thuật trabeculectomy đã giảm đáng kể 58,5%, từ 32.145 ca vào năm 2011 xuống còn 13.345 ca (chiếm 6% tổng số ca phẫu thuật điều trị bệnh tăng nhãn áp) vào năm 2021.
- Số lượng GDI dao động trong những năm nghiên cứu, tăng từ 17.848 vào năm 2011 lên 21.323 vào năm 2013, sau đó giảm xuống còn 17.337 (chiếm 7,8% tổng số ca phẫu thuật tăng nhãn áp) vào năm 2021.
- Số ca cấy ghép iStent, một thủ thuật xâm lấn tối thiểu, đã tăng đáng kể 247.141,67%, từ 42 ca vào năm 2011 lên 103.601 ca (chiếm 46,8% tổng số ca phẫu thuật điều trị bệnh tăng nhãn áp) vào năm 2021.
- Từ năm 2011 đến năm 2015, số ca phẫu thuật goniotomies được thực hiện tăng từ 95 lên 249. Đến năm 2021, con số này tăng đáng kể 15.231,73% lên 38.159 ca phẫu thuật goniotomies (chiếm 17,2% tổng số ca phẫu thuật tăng nhãn áp) vào năm 2021.
- Số lượng ca nong xuyên nhãn cầu có xu hướng tương tự như ca goniotomies, tăng đáng kể 7544% từ 399 ca năm 2011 lên 30.540 ca (chiếm 13,8% tổng số ca phẫu thuật điều trị bệnh tăng nhãn áp) vào năm 2021.
- Việc sử dụng ống dẫn lưu từ bên ngoài ban đầu giảm từ 9947 vào năm 2011 xuống 3973 vào năm 2018, sau đó tăng mạnh lên 11.531 (chiếm 5,2% tổng số ca phẫu thuật tăng nhãn áp) vào năm 2021.
- Số ca quang đông (ECP) đã giảm đáng kể hơn 94%, từ 19.675 ca vào năm 2011 xuống còn 1.158 ca (chiếm 0,5% tổng số ca phẫu thuật tăng nhãn áp) vào năm 2021.
- Đáng chú ý nhất là iStent chiếm 46,8% tổng số ca phẫu thuật điều trị bệnh tăng nhãn áp vào năm 2021.
Khi bình luận về những phát hiện của mình, các tác giả chỉ ra rằng “việc phân tích xu hướng sử dụng phẫu thuật điều trị bệnh tăng nhãn áp là rất quan trọng để hiểu được bối cảnh hiện tại của việc điều trị bệnh tăng nhãn áp”.
Những phát hiện này cũng cho thấy một sự chuyển động hướng tới các lựa chọn phẫu thuật ít xâm lấn trong điều trị bệnh tăng nhãn áp. Sự thay đổi này chỉ ra những tiến bộ trong công nghệ y tế và các mô hình thay đổi trong việc quản lý phẫu thuật bệnh tăng nhãn áp. Hơn nữa, các tác giả cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu sâu hơn để xác định các yếu tố cơ bản đằng sau mỗi xu hướng.
Nguồn: Ophthalmologytimes


